Đề Cương Sách Lược Hưng Quốc

CHÍNH SÁCH

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ HỆ SINH THÁI

Chính Sách

  1. Bảo vệ môi trường và hệ sinh thái là quan trọng cho đời sống và phúc lợi của người dân.       Chính phủ phải có chương trình và luật pháp rõ ràng làm nền tảng, giúp cho mọi hoạt động kinh tế và phát triển được cân bằng và hài hòa với việc bảo vệ môi trường ứng hợp vơi tiên trình toàn cầu hóa.
  2. Vì Việt Nam là một nước nghèo và đông dân, việc bảo vệ môi trường và hệ sinh thái phải ứng dụng thực tế vào đời sống của người dân và có thể đo lường rõ rang, minh bạch. Các cơ sở vệ sinh tại thành thị cũng như nông thôn là một bộ phận của hệ sinh thái, vì thế cần được tu bổ để có thể hoạt động theo khoa học tiền tiến và lâu dài bền vững.
  3. Người dân có quyền biết mọi công trình công cũng như tư có ảnh hưởng tới môi trường như thế nào và phải có quyền phản biện, chống đối. Chính sách bảo vệ môi trường phải có trình tự rõ ràng và loan báo trước cho người dân biết để người dân có thể sửa soạn, khảo cứu và tiến hành phản biện trong các cuộc trưng cầu dân ý công cộng để duyệt xét công trình có nên hay không nên cho phép.
  4. Chính phủ phải lập một hệ thống điều hành luật bảo vệ môi trường để thi hành đúng đắn và hiệu quả những điều cần phải làm. Phải có một điều khoản giới hạn thời gian duyệt xét để công việc đựơc nhậy bén. Phải có một hệ thống thanh tra độc lập để tìm ra và sửa chữa những sai trái, không thống nhất, không minh bạch.
  5. Vì trách nhiệm bảo vệ môi trường là của toàn thể người dân hằng ngày vẫn sinh hoạt trong hệ sinh thái, chính phủ phải đem đề tài bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục để sau hai hay ba thế hệ, đa sô dân chúng biềt được quyền lợi và trách nhiệm của mình. Cũng vậy, chính phủ phải có chính sách đào tạo viên chức và chuyên viên để họ thi hành nhiệm vụ một cách khoa học, hữu hiệu và phù hợp với những quy định trong Luật Môi Trường và Luật Đầu Tư trong sản xuất và phát triển.

Bối cảnh

Vì Việt Nam là một nước nhỏ, nghèo và đông dân, việc bảo vệ môi trường và hệ sinh thái phải được thực hiện với mục đích cuối cùng là giúp cho đời sống của người dân ngày nay và trong tương lai được tươi đẹp, hạnh phúc. Vì thế, Việt Nam không nên máy móc bắt chước những nước giầu mạnh đã đi trước ta cả trăm năm làm những việc to lớn tốn tiền, mà phải hết sức thực tế về các yếu tố như dân số, tài nguyên, trình độ hiểu biết của cộng đồng, và trình độ thực hiện chính sách của viên chức hữu trách.

Môi trường và hệ sinh thái

Môi trường là danh từ nói chung cho không gian sống của con người, gồm nhiều thành phần gọi là hệ sinh thái, như không khí, nước, cây cỏ, đất đai, v.v. Bảo vệ môi trường và hệ sinh thái có nghĩa giống nhau, bởi vì khi ta bảo vệ môi trường tức là ta bảo vệ hệ sinh thái, và ngược lại. Khi kinh tế còn yếu, hệ sinh thái tại Việt Nam thường rất tốt vì các hệ thống đó rất to lớn so với các hoạt động kinh tế hàng ngày của người dân. Nhưng khi dân số càng ngày càng tăng và các hoạt động kinh tế kỹ nghệ càng ngày càng phát triển thì hệ sinh thái bị áp lực lớn, gây nên cảnh bụi bậm, nước bẩn, núi rừng bị cằn cỗi, chim cá càng ngày càng ít đi. Bào vệ môi trường và hệ sinh thái là có những chương trình và hành động hướng vào việc cân bằng các hoạt động kinh tế để hệ sinh thái không xấu đi mà còn có thể tốt hơn.

Các phương thức và biện pháp bảo vệ môi trường và hệ sinh thái

Ta bảo vệ không khí ta thở và nước ta dùng hằng ngày bằng cách chỉ thải ra không khí và sông hồ rất ít khí độc, bụi bậm, chất hóa học, rác rưởi …sau khi đã xử lý chúng và biết rằng các chu trình thiên nhiên có thể thu hấp và biến hóa chúng, khiến khí quyển và sông hồ vẫn trong sạch một cách lâu dài bền vững.

Ta cần theo gương và học hỏi kinh nghiệm của các nước tiền tiến, đặt ra các luật lệ đòi hỏi mọi hoạt động kinh tế phải tuân thủ các điều kiện thải ra môi trường không nhiều quá một mức độ cho phép. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới kể cả Việt Nam đều đã theo mẫu của Liên Hiệp Quốc hoặc các nước tiền tiến tạo ra những bộ luật sau đây:

  • Luật bảo vệ không khí.
  • Luật bảo vệ nước.
  • Luật về số lượng tối đa nhà máy có thể thải bụi và khí và chất độc hại (như SOx, NOx, CO2…; arsenic, thủy ngân, kim loại ở nhiều dạng khác nhau…)
  • Luật về asbestos và các vật liệu xây dựng.
  • Luật về phóng xạ và xử dụng năng lượng hạt nhân.
  • Luật sử dụng bờ biển.
  • Luật chịu trách nhiệm ô nhiễm và phục hồi môi trường.
  • Luật sử dụng các hóa chất diệt sâu bọ và rong rêu.
  • Luật hạn chế tiếng động.
  • Luật chống ô nhiễm và tái sử dụng các chất phế thải.
  • Luật điều hành các công thự và công trình của nhà nước.
  • Luật an toàn nước uống.
  • Luật thải rác.
  • Luật xử lý chất hóa học độc hại.
  • Luật giữ gìn các di tích lịch sử
  • Luật bảo tồn các động vật, chim cá, và thảo mộc khan hiếm
  • Luật bảo vệ rừng
  • Luật khai thác quặng mỏ.

Chính sách của chính phủ phải hướng vào việc phổ biến các luật này hết sức rõ ràng, dễ hiểu, có thể áp dụng nhanh chóng để doanh nghiệp và người dân tuân thủ; đồng thời huấn luyện đội ngũ viên chức thanh tra việc tuân thủ một cách toàn diện, nhất thống từ Bắc tới Nam, từ hoạt động của nhà nước tới hoat động của người dân một cách công bằng, minh bạch, không quan liêu. Chính phủ và viên chức cần tôn trọng quyền lợi và ý kiến của người dân, vì thế phải lắng nghe và hành động ngay khi người dân có những kiến nghị về sự việc áp dụng luật một cách tùy tiện có lợi cho một thiểu số có đặc quyền đặc lợi và vi phạm Luật Môi Trường.

Quyền của người dân

Chỉ có người dân mới có quyền chấp nhận hậu quả của việc cho phép nhà máy hoạt động hoặc quặng mỏ được khai thác. Quyền này của người dân phải được luật hóa và thực hiện một cách có hệ thống, dân chủ, văn minh.

Việc áp dụng luật cho nghiêm minh rất quan trọng và cần thiết, nhưng cũng chưa đủ khi hậu quả trên một địa phương lại nặng nề hơn các điạ phương khác. Chính sách bảo vệ môi trường cần đòi hỏi có những cuộc họp địa phương công khai để người dân của địa phương và cả các công dân toàn quốc có cơ hội hạch hỏi và khiếu nại những sai lầm của người chủ trương công trình và viên chức phê chuẩn. Các khiếu nại và hạch hỏi của người dân cần được trả lời thích đáng và người dân có quyền kiện các cơ quan chính phủ cho phép thực hiện dự án.

Bảo vệ môi trường và bảo vệ người dân

Vì nước Việt Nam nghèo, các làng mạc và thành thị của Việt Nam có nhiều thiếu thốn cơ bản, như nước sạch, nhà vệ sinh, cống rãnh, nơi xử lý phế thải và rác. Tất cả các cơ sở này đều là một bộ phận của môi trường. Người dân sẽ sống mạnh, sống khỏe khi được sử dụng những phương tiện không những giúp con người ít bệnh tật mà còn làm môi trường được bảo đảm là sạch sẽ và được bảo trì lâu dài bền vững. Vì thế, chính sách bảo vệ môi trường của Việt Nam cần nhanh chóng thúc đẩy thiết lập và điều hành các cơ sở hạ tầng giúp cho đời sống của người dân ngày càng tốt hơn.

Tránh nạn hâm nóng khí quyển toàn cầu

Sự hâm nóng khí quyển bởi CO2 sẽ dẫn tới nạn lụt hồng thủy. CO2 giữ lại trong khí quyển làm cho nhiệt độ của bầu khi quyển nóng lên. Và khi bầu khí quyển nóng lên thì băng đá tại Bắc Cực và Nam Cực sẽ tan dần, làm mực nước biển dâng lên cao. Các nước tiền tiến đang có những chính sách hạn chế việc đốt nhiều than, dầu hỏa…và cổ võ cho việc dùng nhà máy điện hạt nhân, cùng là các nhà máy tạo điện dùng năng lượng tái tạo. Cũng thế, họ khảo cứu cách nào bảo vệ an toàn cho người dân khi nạn hồng thủy làm ngập lụt các bờ biển và các nạn hạn hán, bão táp làm kinh tế của người dân bị khủng hoảng.

Hiện nay Việt Nam sử dụng năng lượng chỉ bằng vài phần ngàn việc sử dụng năng lượng của thế giới, nhưng Việt Nam cũng cần có chính sách dựa theo theo kinh nghiệm của các nước khác trong nghĩa vụ giúp thế giới tránh nạn hồng thủy và bão táp. Nhưng ta chỉ nên đóng góp theo khả năng của ta, và chú trọng hơn về việc sử dụng các luật bảo vệ môi trường giản dị có lợi mau chóng cho sức khỏe và đời sống kinh tế của người dân.

Chương trình giáo dục và đào tạo

Người dân cần phải biết sự quan trọng của môi trường và hệ sinh thái, và lý do tại sao phải có trách nhiệm bảo vệ chúng để có đời sông tốt đẹp hơn, cho mình và cho con cháu sau này. Chính phủ phải có chương trình đem đề tài bảo vệ môi trường vào bậc tiểu học, để sau 2-3 thế hệ, toàn thể 90-100 triệu người dân sống trong một giải đất 330,000 Km2 nhận thức được sự phá hại môi trường bởi sức bành trường kinh tế.

Mỗi người dân có trách nhiệm và quyền lợi bảo vệ môi trường chung quanh mình và môi trường trên toàn quốc. Họ có quyền biết mọi thông tin, có quyền phản biện và chống đối khi người chủ trương công trình không nghiên cứu đủ sâu hoặc khi có nạn bè phái, hối lộ, làm việc thực thi luật môi trường không đúng đắn, nghiêm minh.

Cũng thế, các viên chức đại diện cho luật pháp và chính phủ trong việc duyệt xét, chuần y, và thanh tra công trình phải là những người có hiểu biết khoa học và luật pháp trong vấn đề. Họ phải được giáo dục, tập huấn, và thực tập chu đáo để trở thành những viên chức làm việc gương mẫu, khoa học, nhanh nhẹn, công bình, và minh bạch. Sự cộng tác thẳng thắn giữa họ, người chủ trương công trình, và người dân là quan trọng cho việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Các công tác này đều có mục đích tối hậu là làm đời sống của người dân và con cháu họ trong tương lai được tốt đẹp, hạnh phúc một cách lâu dài bền vững.

 

(Rev. 27-8-2011)

 

 

Góp Ý