Warning: include(/home/content/t/a/m/tamdan/html/includes/js/calendar/user.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 9

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/t/a/m/tamdan/html/includes/js/calendar/user.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 9

Warning: include(/home/content/t/a/m/tamdan/html/administrator/modules/mod_feed/plugin.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 12

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/t/a/m/tamdan/html/administrator/modules/mod_feed/plugin.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 12

Warning: include(/home/content/t/a/m/tamdan/html/views/model.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 15

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/t/a/m/tamdan/html/views/model.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 15

Warning: include(/home/content/t/a/m/tamdan/html/templates/themza_j15_07/css/stats.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 18

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home/content/t/a/m/tamdan/html/templates/themza_j15_07/css/stats.php' for inclusion (include_path='.:/usr/local/php5/lib/php') in /home/content/71/4131571/html/index.php on line 18

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at /home/content/71/4131571/html/index.php:9) in /home/content/71/4131571/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at /home/content/71/4131571/html/index.php:9) in /home/content/71/4131571/html/libraries/joomla/session/session.php on line 423

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home/content/71/4131571/html/index.php:9) in /home/content/71/4131571/html/libraries/joomla/session/session.php on line 426
Vấn Ðề Hiến Pháp Việt Nam Hậu Cộng Sản
Đề Cương Sách Lược Hưng Quốc

Vấn Ðề Hiến Pháp Việt Nam Hậu Cộng Sản

Dẫn nhâp:

Trong phần trình bày này, chúng ta không nhằm mục tiêu phát họa một bản dự thảo hiến pháp cho tương lai. Mục tiêu chính của chúng ta là nêu ra một số nguyên tắc căn bản về luật hiến pháp để từ đó, chúng ta có thể thảo luận về những nét chính của một hiến pháp dân chủ thực sự cho Việt Nam trong tương lai.

Tuy quan điểm dân chủ hiện đại đa dạng và được thể hiện qua nhiều thể chế chính trị khác nhau, tùy theo các điều kiện lịch sử, kinh tế và xã hội của từng quốc gia. Tuy nhiên có 3 yếu tố quan trọng cần hiện hữu trong một nền dân chủ chân chính để quan điểm dân chủ được phát huy tột đỉnh. 3 yếu tố đó là:

  1. Yếu tố hiến định
  2. Yếu tố pháp trị và
  3. Yếu tố đa nguyên

1. Thế nào là Hiến Ðịnh:

Yếu Tố Hiến Định bao gồm:

a. Quyền lực của quốc gia và mọi luật pháp của quốc gia không những đặt trên căn bản mà còn phát xuất từ một Bản Hiến Pháp được định nghĩa như là một khế ước xã hội căn bản được long trọng ký kết bởi mọi công dân trong quốc gia.

b. Không một cá nhân, thành phần của xã hội dân sự hoặc cơ chế của nhà nước cần trung thành với bất cứ một cá nhân, cơ chế, hoặc chính đảng nào. Tuy nhiên tất cả đều phải bảo vệ và trung thành với hiến pháp.

c. Tất cả mọi luật pháp và tác động của hành pháp không phù hợp với tinh thần của Hiến Pháp đều bị coi là vi hiến và không có hiệu lực pháp lý.

d. Để củng cố cho yếu tố hiến định, các nguyên tắc căn bản sau đây phải được hiến định hóa:

- Nguyên tắc đa nguyên chính trị.
- Nguyên tắc tự do tư hữu.
- Nguyên tắc tự do kinh doanh.
- Nguyên tắc tự do hội họp và lập hội.
- Nguyên tắc tự do tư tưởng.
- Nguyên tắc tự do tôn giáo.
- Nguyên tắc tự do báo chí.
- Nguyên tắc tự do đi lại.
- Nguyên tắc bình đẳng cơ hội cho mọi cá nhân và hữu thể pháp lý trong xã hội.
- Nguyên tắc pháp trị.
- Nguyên tắc phân quyền.

2. Thế Nào Là Pháp Trị.

Yếu tố Pháp Trị bao gồm:

a. Mọi cá nhân, mọi thành tố của xã hội dân sự và mọi cơ cấu của nhà nước hay chính quyền, chỉ là những hữu thể pháp lý tuyệt đối bình đẳng trước luật pháp.

b. Tư Pháp là một cơ phận tối cao của quốc gia giữ trọng trách điều hợp và giải quyết mọi xung đột giữa những hữu thể pháp lý trong quốc gia. Chính vì thế ngành tư pháp phải có một vị trí hoàn toàn độc lập và đứng ngoài vòng ảnh hưởng của các áp lực có tính cách phe nhóm, hoặc áp lực đến từ Hành Pháp hoặc Lập Pháp.

c. Pháp trị có nghĩa là đặt căn bản luật pháp trên những nguyên tắc chí công vô tư được ghi rõ trong hiến pháp và trong các văn kiện pháp lý được quốc hội thông qua.

d. Tất cả các thành phần trong xã hội đều có quyền được bào chữa khi bị truy tố chính thức và phải được xử án một cách công khai trong một phiên xử công bằng.

3. Thế Nào Là Ða Nguyên.

Yếu tố Đa Nguyên bao gồm:

a. Quyền lực chính trị trong một quốc gia phải luôn luôn phát xuất từ nhiều tụ điểm khác nhau. Những tụ điểm này không những là những đảng phái chính trị khác nhau mà ngay cả những đoàn thể có tính cách tôn giáo, xã hội, từ thiện, kinh tế, sắc tộc, phái tính, nghề nghiệp, đẳng cấp xã hội hoặc bất cứ một tụ điểm hợp pháp nào khác.

b. Bằng tác động chấp nhận đa số, một chế độ dân chủ đa nguyên vẫn phải trân trọng và nuôi dưỡng sự hiện hữu và đóng góp của thiểu số. Tôn trọng quyền hiện hữu và sự đóng góp của thiểu số đối lập là một yếu tố căn bản của nền dân chủ thật sự.

Ðể bảo đảm tính cách tuyệt đối của quan diểm đa nguyên, phải có 2 yếu tố cần được hiến định hóa. Ðó là các yếu tố:

  1. Bầu cử theo thể thức “đại diện theo tỷ lệ” (proportional representation) thay vì “ngựa chạy về nhất”(first past the post)
  2. Bầu cử cưỡng bách (compulsory voting) thay vì bầu cử không cưỡng bách (non- compulsory voting)

Phương thức bầu cử ngựa chạy về nhất được áp dụng tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Phương pháp này đem lại chiến thắng toàn diện cho cá nhân hoặc đảng phái có tỷ lệ phiếu tương đối. Chẳng hạn trong 1 cuộc bầu cử gồm có 5 đảng phái hoặc 5 ứng cử viên thì chỉ cần ứng cử viên nào có tỷ lệ phiếu cao nhất tương đối thì ứng cử viên ấy đắc cử. Một quy luật như thế thuận lợi cho các đảng phái lớn, có nhiều tài lực để khuynh loát.

Trong khi đó phương pháp đại diện theo tỷ lệ sẽ nhạy cảm với lá phiếu đếm mức độ là: thông thừơng số dân biểu của một chính đảng đắc cử trong quốc hội sẽ tương xứng với tỷ lệ ủng hộ của dân chúng. Một đảng phái có 50% cử tri ủng hộ sẽ có 50% đại diện trong quốc hội. Một đảng phái có 30% hoặc 5% cũng sẽ có số đại diện tương xứng. Ðiều này vô cùng công bằng và tránh được những bất công thường xảy ra tại Hoa Kỳ. Có thể nói rằng Hoa Kỳ là một thể chế tư bản, không nhất thiết là một nền dân chủ đa nguyên chân chính.

 

Trên phương diện nội dung, sự hiện diện của các yếu tố này trong một bản hiến pháp sẽ bảo đảm phẩm chất của một nền dân chủ chân chính.

Trên phương diện cấu trúc, một bản hiến pháp sẽ gồm nhiều phần, nhiều điều khoản khác nhau như sẽ trình bày sau đây. Tuy nhiên, trong bất cứ cấu trúc nào, tinh thần của các yếu tố hiến định, pháp trị và đa nguyên cũng giữ phần chủ đạo.

  1. I. Lời mở đầu của hiến pháp:

Phần lớn chúng ta đánh gía thấp tác dụng của lời mở đầu một bản hiến pháp. Thật sự, vì nó vừa là luật căn bản (fundamental laws), vừa là căn bản của mọi luật pháp (foundation of all laws) bất cứ phần nào của bản hiến pháp cũng đều có tác dụng sâu rộng trên xã hội. Chính vì thế, chúng ta cần tránh tối đa trong lời mở đầu những quan điểm quốc gia quá khích, những ý thức hệ giáo điều, những biểu tượng gây chia rẽ giữa các thành phần dân tộc.

Chúng ta nên tập chú vào một lời mở đầu thực tế, khiêm nhượng nhưng tự trọng, chú trọng đến trách nhiệm khai sáng trí tuệ, khai phóng con người, đoàn kết mọi thành phần dân tộc để cùng nhau hướng về tương lai.

  1. II. Những Quyền Lợi và Nghĩa Vụ Căn Bản:

Phần lớn hiến pháp các quốc gia dân chủ mới được viết trong vòng 50 năm gần đây (Nga Sô, Hòa Lan, Đài Loan v.v.....) đều có nêu ra những quyền lợi và và nghĩa vụ căn bản. Những hiến pháp đã được viết từ lâu đời như hiến pháp của Hoa Kỳ thì phải được bổ túc bỡi một Bill of Rights (Hiến Chương Quyền Lợi). Phần lớn những quyền lợi được hiến định hóa phản ảnh những nhân quyền căn bản trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (TNQTNQ) được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Thông Qua năm 1948.

Một khi một quyền lợi hoặc trách nhiệm được hiến định hóa thì không một sức mạnh pháp lý nào có thể tước đoạt nó và mọi luật pháp đi ngược lại với tinh thần của nó đều phải triệt tiêu vì không có hiệu năng pháp lý.

 

  1. Lập pháp tại trung ương:

 

1. Hai thể chế dân chủ:

Dĩ nhiên nhiều nhà phân tích chính trị có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên có 2 thể chế chính trị dân chủ căn bản ngày hôm nay. Đó là chế độ Đại Nghị hoặc Quốc Hội Chế (parliamentary system hoặc Westminster system) còn gọi là Nội Các Chế (cabinet system) ở bên này và Tổng Thống Chế (presidential system) ở bên kia. Từ 2 mô thức căn bản này chúng ta nhận thấy có sự uyển chuyển dung hòa 2 mô thức để đáp ứng nhu cầu chính trị của từng quốc gia và phát sinh ra một mô thức thứ 3 gọi là mô thức tổng hợp (combined system).

 

2. Bản chất quốc hội chế:

Bản chất của quốc hội chế là tập trung quyền lực tối cao của quốc gia nơi quốc hội. Từ sự ưu việt đó của quốc hội (parliamentary supremacy) phát sinh ra các quyền hành pháp và tư pháp, vì quốc hội (qua đảng phái nắm được đa số) sẽ thành lập chính phủ, bổ nhiệm các bộ trưởng trong nội các và thủ tướng chính phủ (hành pháp). Đồng thời các thẩm phán của các tòa án cao nhất quốc gia thông thường cũng do quốc hội bổ nhiệm (tư pháp) với sự đề cử của hành pháp. Dĩ nhiên sau khi được bổ nhiệm thì các thẩm phán có toàn quyền độc lập vì các quan tòa thông thường được bổ nhiệm mãn đời hoặc đến tuổi hưu trí và chỉ bị cách chức nếu vi phạm tội hình luật, bại hoại thanh danh hoặc mất trí năng và phải do lưỡng viện quốc hội phê chuẩn cách chức. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, sự phân quyền chỉ còn 2 vế: đó là lập pháp và hành pháp một bên và tư pháp một bên. Không phải là một sự phân quyền rõ rệt và toàn diện giữa 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp riêng biệt như trong tổng thống chế và như tư tưởng gia Montesquieu mong muốn.

Để bù lại cho khuyết điểm thiếu phân quyền này và để tránh tình trạng độc tài, quốc hội chế thông thường công nhận chính thức sự hiện hữu của một “chính phủ trong bóng tối “ (shadow government) hoặc một “đối lập chính thức” (official opposition) .”Chính phủ trong bóng tối” này được sự lãnh đạo của một lãnh tụ đối lập (leader of the opposition) được cấp dưỡng những lợi tức và phương tiện làm việc tương xứng với trách nhiệm của mình. Thông thường tại Uc Đại Lợi, lãnh tụ đối lập lãnh lương ngang hàng với một vị bộ trưởng trong chính phủ và có nhiều nhân viên giúp việc cho mình để thi hành nhiệm vụ. Dưới quyền vị này có các bộ trưởng trong bóng tối (shadow ministers) hoặc còn gọi là phát ngôn viên đối lập (opposition spokesperson) cũng được chính quyền cung cấp những phương tiện nhân sự hoặc vật chất đầy đủ để thi hành nhiệm vụ của mình.

 

3. Bản chất tổng thống chế:

 

Tổng thống chế ngược lại không tập trung mọi quyền lực quốc gia nơi tổng thống. Tuy nhiên quyền hành pháp chỉ nằm nơi tổng thống mà thôi và tổng thống chế đặt căn bản trên sự phân chia quyền lực hàng ngang (horizontal separation of powers) cho 3 trung tâm quyền lực khác nhau:Hành pháp (tổng thống), lập pháp (quốc hội) và tư pháp (tối cao pháp viện). Ba trung tâm quyền lực này trên nguyên tắc quân bình và độc lập đối với nhau theo đúng ý niệm phân quyền của Montesquieu trong cuốn sách bất hủ của Ông là “Vạn Lý Tinh Pháp” (Esprit Des Lois) . Tổng thống chế đầu tiên phát xuất từ Hoa Kỳ và các cha đẻ của hiến pháp Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng nhiều của các triết gia Au Châu trong đó quan trọng nhất là Montesquieu. Lý do gọi là tổng thống chế có lẽ vì người giữ chức vụ tổng thống còn là nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh quân lực nữa. Tổng thống chịu trách nhiệm toàn diện về hành pháp và có quyền bổ nhiệm toàn bộ nội các chính phủ. Các vị bộ trưởng không cần và không phải là dân biểu của quốc hội hoặc thượng nghị sĩ như trong quốc hội chế.

Biên giới của sự phân quyền hàng ngang này (không phải là phân quyền hàng dọc tức “vertical separation of powers” giữa trung ương và địa phương sẽ bàn tới sau) được nêu rõ trong hiến pháp. Sau khi cân nhắc nhiều yếu tố, chúng tôi cho rằng tổng thống chế phù hợp với các điều kiện chính trị Việt Nam hơn.

  1. Yếu tố lịch sử: Lịch sử ý niệm và truyền thống dân chủ tại Việt Nam tương đối ngắn ngủi so với các quốc gia khác. Tại miền Nam thì các chế độ cộng hòa không thực sự dân chủ vì sự ấu trĩ của hàng ngũ lãnh đạo miền Nam, sự giật dây của ngoại bang và siêu cường quốc tế. Tại miền Bắc thì theo sách lược của Đệ Tam Quốc Tế, những hình thức dân chủ chỉ là những chiêu bài để làm bình phong cho việc tiến hành ý niệm độc tài vô sản. Tuy nhiên trong tất cả những thiếu sót ấy thì cấu trúc chính trị của cả 2 miền Nam lẫn Bắc đều đặt căn bản trên một ngành hành pháp mạnh và lấn át Lập Pháp. Ngay cả tại miền Bắc, nơi mà thủ tướng là chức vụ trên nguyên tắc lãnh đạo chính quyền thì vị thủ tướng này thật sự không chịu trách nhiệm trước quốc hội mà lại chịu trách nhiệm trước Bộ Chính Trị đảng CSVN. Quốc hội thật sự chỉ là quốc hội bù nhìn.
  2. Nhu cầu ổn định cơ cấu dân chủ: Trong những nền dân chủ trưởng thành và lâu đời như Anh Quốc, Úc Đại Lợi thì quốc hội chế có thể rất tốt đẹp vì trình độ ý thức về dân chủ rất cao trong dân chúng . Thêm vào đó không những các cấu trúc xã hội, đảng phái chính trị, tôn giáo đều nuôi dưỡng những tiềm năng dân chủ hùng mạnh trong cấu trúc của mình, mà ngay chính cá nhân các chính trị gia đều có sự tự chế trong tham vọng chính trị. Chính vì thế, mặc dù trong quốc hội chế, chỉ cần nắm được đa số quá bán trong quốc hội là không những trên nguyên tắc mà cả trên thực tế có thể nắm quyền tuyệt đối. Tuy nhiên chính quyền tại các quốc gia này vẫn hoạt động trong sự hài hòa giữa chính quyền và các nhóm đối lập. Ngược lại, tình trạng quốc hội chế không được hoàn hảo tại các quốc gia khác như Singapore và Mã Lai. Các đảng nắm quyền luôn luôn muốn dùng đa số của mình trong quốc hội để sửa đổi cấu trúc căn bản của luật pháp, đàn áp đối lập và đi đến độc tài. Sự độc tài này rất khó kiểm soát vì sự vắng bóng một biên giới rõ rệt giữa hành pháp và lập pháp. Trong tình huống như thế, tổng thống chế sẽ đem lại cho ý niệm dân chủ nhiều sự bảo đảm an tòan hơn. Chúng ta cần phải khách quan nhận xét rằng, trình độ ý thức dân chủ của dân ta còn thấp hơn Singapore và Mã Lai nữa, và mức độ tự chế của các chính khách Việt Nam sẽ thấp hơn các nước nêu trên, mặc dầu các nước này rõ ràng không hoàn hảo chút nào trên phương diện áp dụng chế độ dân chủ thật tâm.

 

4. Các ví dụ diển hình:

 

Một vài ví dụ điển hình các quốc gia hiện thời theo quốc hội chế là Anh Quốc, Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, và Ấn Độ. Các Quốc gia theo Tổng thống chế là Hoa Kỳ, Mexico, Phi Luật Tân, nhiều quốc gia Nam Mỹ. Các Quốc gia theo mô thức tổng hợp là Pháp, Nga Sô, và Đài Loan. Các nước theo mô thức tổng hợp có thể đi từ khuynh hướng trao rất nhiều quyền lực cho vị tổng thống và tương đối ít quyền hoặc rất ít quyền cho thủ tướng (thiên về tổng thống chế) như Nga Sô, Đài Loan hoặc quân bình giữa Tổng Thống và thủ tướng như Pháp trong quan điểm gọi là “chung cư” (co-habitation). Nếu thiên về thủ tướng nhiều quá thì thông thường không thể gọi là tổng thống chế nữa mà chỉ là một thứ quốc hội chế trá hình. Lý do là vì thủ tướng chịu trách nhiệm trước quốc hội và do quốc hội bầu ra. Lúc đó tổng thống không có quyền hành pháp thật sự mà chỉ là một chức vụ quốc trưởng tượng trưng và nghi lễ (symbolic and ceremonial) mà thôi.

  1. IV. Hành pháp tại Trung Ương:

Đây chính là trọng tâm của quan điểm tổng thống chế theo hệ thống của hiến pháp Hoa Kỳ.

Chúng ta nên chủ trương một hành pháp được bổ sung mạnh hơn bằng cách khẳng định rằng tổng thống không những là tổng tư lệnh tối cao quân lực mà còn là tổng tư lệnh tối cao các lực lượng an ninh, cảnh sát và công an. Mục đích không những là ngăn ngừa các tình trạng phe nhóm quyền lực chia rẽ các lực lượng vũ trang trong quốc gia vốn là nguy cơ của các cuộc đảo chánh, cướp chính quyền hoặc nổi loạn tại các địa phương, mà đồng thời còn đem các nhóm võ trang này đặc trực tiếp dưới sự điều động của một nguyên thủ quốc gia do dân bầu ra, theo đúng quan điểm của cựu tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson: rằng các lực lượng vũ trang phải tuyệt đối phục tùng một chính quyền dân sự.

Tình trạng đất nước của chúng ta trong giai đoạn chuyển tiếp từ độc tài đến dân chủ thật sự là một thực trạng vô cùng phức tạp vì những mâu thuẫn có tính cách lịch sử. Nếu không có một hành pháp mạnh mẽ, chúng ta sẽ thấy sự trỗi dậy của những mâu thuẫn giữa Nam và Bắc, Thượng và Kinh, Đảng và Quân Đội, Trung Ương và các Địa Phương, mâu thuẫn giữa các tôn giáo tranh giành ảnh hưởng trong một môi trường chính trị cởi mở và không còn bị sự khống chế của một quyền lực độc tài. Nghịch luận của chúng ta là dân tộc chúng ta không còn sự chọn lựa nào ngoài xúc tiến tiến trình dân chủ hóa nhanh chóng, để khai phóng cho tiềm năng sáng tạo của dân tộc hầu bắt kịp các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên tiến trình dân chủ hóa này phải được điều nghiên kỹ càng và nghiêm chỉnh để tránh tình trạng hỗn loạn chính trị (political anarchy) vô cùng nguy hiểm, có thể đưa đến tình trạng quân đội phải can thiệp để ổn định chính trường. Nếu trường hợp này xảy ra và các giới tướng lãnh quân đội không biết tự chế, thì dân tộc chúng ta sẽ chuyển từ một chế độ độc tài đảng trị sang một chế độ quân phiệt hoặc khuynh tả, hoặc khuynh hữu, hoặc không liên kết.

 

  1. Ngành Tư Pháp:

 

Ngành tư pháp biểu tượng cho quan điểm pháp trị (rule of law) vốn là một trong 3 cột trụ của một nền dân chủ chân chính. Tuy nhiên trong 3 quan niệm cột trụ đó (hiến định, pháp trị và đa nguyên) thì có lẽ quan điểm pháp trị là quan trọng nhất. Có thể nói rằng nhân quyền và dân quyền (vốn là cứu cánh của ý niệm dân chủ) sẽ không thể tồn tại nếu chỉ có một bản hiến pháp, một chế độ đa nguyên, nhưng không có nền tảng pháp trị vững bền. Trong khi đó, một xã hội không cần hiến pháp, không cần chế độ chính trị đa đảng nhưng nếu có một nền tảng pháp trị bền vững, thì nhân quyền và dân quyền vẫn có một chỗ đứng khả kính. Ví dụ điển hình nhất là Hồng Kông trước khi trao trả lại cho Trung Quốc là một thuộc địa của Anh Quốc, không có hiến pháp riêng, không có dân chủ đa nguyên và chỉ có pháp trị. Tuy nhiên dân quyền và nhân quyền người dân Hồng Kông thì ở mức độ cao hơn tại Mã Lai, Singapore, Nam Dương rất nhiều.

Nói như thế không phải để chúng ta phải làm giảm giá trị của 2 ý niệm còn lại, nhưng để chúng ta ý thức được tầm mức quan trọng của yếu tố pháp trị. Đây chính là yếu tố dân tộc chúng ta thiếu nhất và chính vì thiếu truyền thống pháp trị mà chúng ta nên hiến định hóa một số quan điểm pháp trị căn bản như:

-          Các quan điểm hợp hiến và vi hiến

-          Tính bổ sung cho hiến pháp của các sắc luật

-          Nhiệm vụ giải thích và áp dụng luật pháp của tòa án

-          Cản trở công lý là một trọng tội hình luật

-          Phương thức giải quyết các mâu thuẫn giữa luật pháp

-          Phải có sắc luật mới được xử dụng ngân khố

-          Tinh thần bất hồi tố của luật pháp

Các điều này một cách minh thị đặt nền tảng pháp trị cho đất nước chúng ta.

  1. VI. Phân chia quyền lực giữa chính quyền trung ương và các chính quyền địa phương:

Phân quyền là một chủ trương trọng yếu của bản dự thảo hiến pháp và bao gồm 2 khía cạnh:

Phân quyền hàng ngang (horizontal separation of powers) giữa Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.

Tuy nhiên phân quyền hàng dọc (vertical separation of powers) cũng quan trọng không kém và cũng cần phải được hiến định hóa. Phân quyền hàng dọc còn được gọi là “địa phương phân quyền” (decentralization of powers) là một ý niệm đối nghịch với ý niệm “trung ương tập quyền” (centralization of powers). Hình thức địa phương phân quyền tích cực tiêu biểu nhất là chế độ liên bang (federal system) trong đó các chính phủ tiểu bang có rất nhiều quyền hạn, liên bang chỉ có một số quyền hiến định. Các quyền còn lại (residual powers) được quy định thuộc các tiểu bang (như tại Úc và Hoa Kỳ). Hình thức trung ương tập quyền tích cực tiêu biểu nhất là chế độ đơn quyền (unitary system) trong đó mọi quyền lực thuộc về chính quyền trung ương và các địa phương chỉ là các đơn vị hành chánh trực thuộc chính quyền trung ương mà thôi (như tại Việt Nam, Pháp trước 1982).

Chúng ta nhận định ngay rằng lịch sử cũng như địa dư Việt Nam không thể chấp nhận một chế độ liên bang. Một cách vắn tắc lịch sử của chúng ta cho thấy ý thức về một dân tộc duy nhất và một chính quyền trung ương duy nhất đã được thành hình và thủa bình minh của lịch sử.Các giai đoạn lịch sử phong kiến (feudal) trong đó các Lạc Hầu, Lạc Tướng cai trị các lãnh địa có ít nhiều độc lập đã đi qua nhanh chóng, và ý niệm về quốc gia dân tộc như là một hữu thể duy nhất trở thành một ý niệm hùng mạnh từ lâu.

Thêm vào đó trong quá trình nam chinh của các bậc tiền nhân, chúng ta lại càng nhận thấy rõ rệt hơn rằng ngay cả trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, cả 2 chúa vẫn trên nguyên tắc “phò Lê” và các vùng đất mới chiếm được cũng trở thành những làng xã, quận huyện hoặc phủ trực thuộc trung ương. Rõ ràng là trong lịch sử chúng ta, trung ương có trước và địa phương nương vào đó mà có sau. Hoàn cảnh này hoàn toàn trái ngược với Hoa Kỳ, Úc v.v..và cũng khác ngay cả Trung Hoa, Pháp hoặc Anh Quốc. Có thể nói yếu tố đơn quyền của chúng ta vô cùng hùng mạnh.

Trên phương diện địa dư, chúng ta là một quốc gia có một vùng đất tương đối nhỏ so với dân số nhưng vô cùng hiểm trở, đa diện và có chiều dài nhưng không có bề ngang. Một địa thế như vậy, nếu không có một ý niệm quốc gia dân tộc hùng mạnh sẽ rất dễ dàng bị phân chia ra làm 2 hoặc 3 quốc gia khác nhau. Các giai đoạn Thập Nhị Sứ Quân, Trinh Nguyễn phân tranh, ý đồ chia đất nước chúng ta làm 3 miền Trung, Nam, Bắc và sát nhập với Lào và Cam Bốt thành lập vùng Đông Dương thuộc Pháp để dễ cai trị, cuộc chiến ý thức hệ Quốc Cộng Nam Bắc, cho chúng ta thấy nguy cơ này. Chính vì thế địa dư của chúng ta buộc chúng ta phải giữ một chính quyền trung ương mạnh để bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ (territorial integrity) cũng như sự thống nhất đất nước và dân tộc.

Tuy nhiên điều đó không cản trở chúng ta khai triển một cách triệt để quan điểm địa phương phân quyền trong phạm vi của ý niệm đơn quyền thiết yếu nêu trên.

Muốn đạt đến mục tiêu này, thay vì phân chia quyền lực chính trị làm 2 loại (thuộc liên bang và thuộc tiểu bang) như thông thường trong một thể chế liên bang, chúng ta lại chia quyền lực chính trị làm 4 loại khác nhau và hiến định hóa cả 4 loại:

 

1. Những lãnh vực quyền lực thuộc trung ương:

Chúng ta sẽ nhận thấy quyền lực của trung ương rất bao trùm và sâu rộng để phản ảnh trung thực bản chất đơn quyền của truyền thống chính trị và xã hội Việt Nam. Thông thường trong hệ thống liên bang thì các lãnh vực hình luật, dân luật, luật thương mại, quản trị hành chánh ngành tư pháp,tài chánh, luật lao động, cảnh sát và trị an v.v... ít nhất trong phạm vi lãnh địa của mình thuộc về tiểu bang mà không thuộc trung ương. Tuy nhiên, vì bản chất đơn quyền chúng ta đề nghị, trong hiến pháp tương lai của Việt Nam, chúng ta nên minh thị quy định các lãnh vực trên phải là lãnh vực của trung ương.

 

2. Những lãnh vực quyền lực thuộc trung ương trên phương diện lập pháp nhưng phải chuyển cho các chính quyền địa phương thi hành.

Những lãnh vực này được phân loại với mục tiêu tản quyền từ trung ương đến các địa phương, nhưng chỉ giới hạn ở quyền thi hành các sắc luật của trung ương trên các lãnh vực này mà thôi. Khi chúng ta nhận diện các lãnh vực này (Luật gia đình, giáo dục, nông nghiệp, ngư nghiệp, an sinh xã hội, thống kê và y tế) chúng ta nhận thấy là những lãnh vực vô cùng thiết yếu và gần gũi với người dân. Vì vô cùng thiết yếu nên những chính sách và luật lệ cần phải được điều nghiên kỹ lưỡng. Trong hoàn cảnh nước ta, chỉ có chính quyền trung ương mới may ra có đủ nhân lực và tài lực để điều nghiên các lãnh vực này. Chính vì thế chính quyền trung ương cần phải lãnh trách nhiệm làm luật và đưa ra các chính sách đồng thuận áp dụng cho tòan quốc. Các chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm thi hành như là những chi nhánh của chính quyền trung ương trên các lãnh vực này. Một sự sắp xếp như thế sẽ làm cho các chính sách của chính phủ được thi hành bởi một chính quyền gần với người dân hơn. Đồng thời cũng phản ảnh được tối đa khuynh hướng tản quyền (deconcentration of powers) trong một hệ thống đơn quyền.

 

3. Những lãnh vực quyền lực thuộc các chính quyền địa phương:

 

Trừ một số lãnh vực như quy định trên, thì những lãnh vực kia phần lớn là những lãnh vực thuộc các đơn vị địa phương dưới cấp tiểu bang (như thành phố, các municipalities trong hệ thống liên bang). Chỉ có một khác biệt quan trọng là những lãnh vực thuộc các chính quyền địa phương này nên được hiến định hóa rõ rệt trong hiến pháp của quốc gia. Chúng ta nên nhớ một yếu tố quan trọng nữa là tuy đất nước chúng ta hiện thời còn nghèo khổ và trình độ dân chủ còn thấp. Tuy nhiên dân số chúng ta tương đối lớn (khoảng 85 triệu vào thời điểm này). Chúng ta có khoảng 58 tỉnh và một số thành phố trực thuộc trung ương như Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh. Đổ đồng mổi đơn vị tỉnh hoặc thành phố có dân số 1 triệu rưỡi dân. Đây là một con số khá lớn và có tầm vóc tương đương của một tiểu bang nhỏ trong một hệ thống liên bang.

Các địa phương như thế sẽ là những đơn vị hành chánh và chính trị củng cố cho quan điểm đa nguyên tích cực. Các đơn vị địa phương có thể vừa là những nơi để huấn luyện một giai cấp chính trị gia sau này tham gia ở cấp cao hơn hoặc là nơi bảo tồn lực lượng cho các đảng phái đối lập.

 

4. Những lãnh vực quyền lực còn lại (residual powers):

 

Các quyền lực này nên quy định thuộc trung ương, nhưng qua sự thương thuyết và nếu đồng thuận giữa trung ương và địa phương, có thể chuyển quyền thi hành cho các địa phương liên hệ.

Đây là những lãnh vực chúng ta chưa nhận diện được trước khi một vấn đề luật hiến pháp được đặc ra. Chính vì thế cần phải áp dụng linh động tùy theo hoàn cảnh.

 

  1. VII. Chế độ bầu cử:
  1. Hành pháp (trung ương & địa phương):

Một cách vắn tắc có 2 phương pháp bầu cử hành pháp hiện hành trên thế giới: Phương pháp cổ điển là “ngựa chạy về nhất” (first past the post) và phương pháp mới hơn là “đa số 2 vòng” (two rounds majority). Dự thảo hiến pháp cho rằng phương thức đầu tiên có quá nhiều bất công và không đủ sự nhạy bén để thể hiện đa số lòng dân. Chính vì thế chúng ta phải chủ trương phương thức bầu cử “đa số 2 vòng”. Bằng phương thức này cùng với phương thức bầu cử “đại diện theo tỷ lệ” (proportional representation) áp dụng cho lập pháp (hạ viện) và việc hiến định hóa trách nhiệm bầu cử là một nghĩa vụ có tính cách cưỡng bách, chúng ta sẽ giảm thiểu tối đa ảnh hưởng quá mạnh của giới tư bản, giới nhà giàu trên chính trường, vì thông thường những giới nghèo khổ và lao động ít ý thức về quyền bầu cử của mình. Các cuộc nghiên cứu thống kê cho thấy rằng giới lao động và nghèo khổ không hành xử quyền bầu cử thường xuyên bằng giới nhà giàu. Cũng chính vì lý do này, ngay cả trong các nước dân chủ kỹ nghệ phát triển, chúng ta cũng thấy những sự bất công xã hội hiển nhiên vì khi người dân nghèo không hành xử quyền bầu cử thì ảnh hưởng của họ đối với các chính sách của chính phủ, nhất là trên phương diện tái phân phối của cải (wealth redistribution) không phù hợp với tỷ lệ thật sự của họ trong dân số quốc gia. Kết quả là các chính sách chính phủ ngày càng đào sâu hố chia rẽ giữa người giàu và người nghèo.

Chế độ bầu cử cưỡng bách là một biện pháp dân chủ vô cùng tích cực để quân bình hóa xã hội.

Bầu cử đa số 2 vòng được coi như là dân chủ hơn “ngựa chạy về nhất” và đang được áp dụng tại các quốc gia như Pháp, Do Thái, Nga Sô v.v...…Một ưu điểm nữa của phương pháp bầu cử đa số 2 vòng là tránh được tình trạng các cá nhân hay đảng phái nhiều tiền, muốn khuynh loát chính trường bằng cách bỏ tiền ra để dàng dựng những ứng cử viên cuội, cùng lập trường hoặc lập trường tương tự với đối thủ của mình để chia bớt phiếu đối thủ.

Ưu điểm hiển nhiên nữa là chúng ta sẽ chắc chắn rằng liên danh đắc cử sẽ được đa số cử tri bầu lên.

  1. Lập pháp (trung ương & địa phương):

Vì quyền lập pháp là trọng điểm của chế độ dân chủ, nên phương thức bầu cử “ngựa chạy về nhất” tuyệt đối không nên áp dụng cho lập pháp. Phưong thức “đại diện theo tỷ lệ” là phù hợp và dân chủ nhất.

Một cách tóm lược (www.fairvotecanada.org) có 3 thể thức bầu cử “đại diện theo tỷ lệ” chính: Thứ nhất là “danh sách đảng phái” (party list), thứ nhì là “tỷ lệ hỗn hợp” (mixed proportional) và thứ ba là “phiếu đơn chuyển nhượng” (single transferable vote).

  1. Danh sách đảng phái: Cử tri hoặc toàn quốc, hoặc quốc gia có thể chia ra thành nhiều đơn vị có nhiều ghế (multi-seat electorates),sẽ bầu cho liên danh thay vì từng ứng cử viên. Đảng hoặc phe nhóm nào có nhiều phiếu thì sẽ được nhiều ghế nhất. Thông thường một quốc gia có thể chia ra làm nhiều đơn vị tranh cử và mỗi đơn vị có nhiều ghế đại diện (multiseat electorates). Tuy nhiên điều này không nhất thiết bắt buộc. Đôi khi tòan quốc gia có thể là một đơn vị tranh cử cho tất cả các ghế. Các quốc gia theo hệ thống này gồm có các nước thuộc bán đảo Scandanevia, Hoà Lan, Ao, Do Thái và Nam Phi.

 

  1. Tỷ lệ hỗn hợp: Cử tri bầu theo một mô thức hỗn hợp giữa “ngựa chạy về nhất” và “danh sách đảng phái”.. Mỗi cử tri trong một đơn vị tranh cử đến ngày bầu cử sẽ bầu 2 lần. Lần thứ nhất để chọn ứng cử viên cho đơn vị tranh cử nơi mình cư ngụ và lần thứ nhì cho danh sách đảng phái hoặc phe nhóm mình chọn lựa trên toàn quốc hoặc toàn tỉnh. Số ghế đắc cử của mỗi đảng phái sẽ được điều chỉnh tùy theo tỷ lệ số phiếu. Các quốc gia theo hệ thống này gồm Tân Tây Lan, Đức Quốc sau đệ nhị thế chiến, Tô Cách Lan và Wales.

 

  1. Phiếu đơn chuyển nhượng: Phương thức này cũng xử dụng danh sách ứng cử viên theo đảng phái hoặc phe nhóm. Có nhiều “đơn vị tranh cử nhiều ghế”. Mỗi phe nhóm hoặc đảng phái có quyền đưa ra nhiều ứng cử viên tối đa bằng số ghế tổng quát có thể đắc cử. Tuy nhiên cử tri có thể bầu cho từng ứng cử viên thay vì danh sách đưa ra. Cử tri có thể xếp hạng các ứng cử viên (1,2,3 v.v...…) theo đẳng cấp chọn lực của mình. Ứng cử viên nào đủ túc số (quota) thì được đắc cử. Công thức toán học tính túc số sẽ được các chuyên gia thi hành.

Các quốc gia theo hệ thống này gồm Ái Nhĩ Lan (cả Nam lẫn Bắc), Malta, Ớ Úc Đại Lợi thì áp dụng cho Tasmania và Australian Capital Territory và Thượng Viện Liên Bang.

 

Một cách tổng quát thì trong 3 phương thức “đại diện theo tỷ lệ” nêu trên thì phương thức thứ nhì “tỷ lệ hỗn hợp” có vẻ phù hợp nhất cho tình hình chính trị tại Việt Nam như là phương thức bầu hạ viện. Phương thức thứ nhất “danh sách đảng” có khuyết điểm tương đối trầm trọng là người dân từng đơn vị không được quyền chọn cá nhân người đại diện mà mình ưa thích cho đơn vị của mình. Phương thức thứ 3 có khuyết điểm tương đối trầm trọng là phức tạp và khó hiểu đối với một quốc gia mà trình độ dân chủ chưa được phát triển tối đa. Chỉ có phương thức thứ nhì vừa đem lại sự nhạy bén cho ý dân (số dân biểu sẽ tương xứng với mức độ ủng hộ của người dân cho từng phe nhóm hoặc đảng phái) mà đồng thời cũng cho phép người dân địa phương có tiếng nói trực tiếp bầu cho một cá nhân mình chọn lựa trong đơn vị tranh cử địa phương của mình.

  1. VIII. Quyền hạn của hành pháp và lập pháp tại địa phương:

Nếu chúng ta quan niệm các chính quyền địa phương là một trong những nền tảng của một chế độ dân chủ đa nguyên thật sự thì chúng ta không những phải hiến định hóa tương quan quyền lực giữa trung ương và các địa phương, tương quan quyền lực giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp tại trung ương, mà tương quan quyền lực giữa hành pháp và lập pháp tại các địa phương cũng phải được hiến định hóa một cách nghiêm chỉnh nữa. Tuy quyền lực tại địa phương giới hạn hơn nhưng các địa phương gần gũi với đời sống thường nhật của người dân và những lãnh vực trách nhiệm của họ vô cùng quan trọng, không kém các lãnh vực được quy định cho trung ương.

 

  1. Vấn đề phục hưng đạo đức và văn hóa dân tộc:

 

Công cuộc xây dựng và phát triển một thể chế dân chủ thực sự chỉ tiến hành hữu hiệu trong bối cảnh của một nền văn hóa dân tộc chân chính và khai phóng. Trong giai đoạn hiện tại của lịch sử, với những suy thoái nghiêm trọng về đạo đức và tinh thần, hiểm họa to lớn nhất của dân tộc Việt Nam không có tính cách ý thức hệ chính trị mà là hiểm họa mất văn hóa. Nền văn hóa truyền thống, trên căn bản Tam Giáo Ðồng Nguyên (Phật, Lão, Khổng) không những bao hàm những khía cạnh tôn giáo, mà đồng thời là những nền minh triết uyên thâm, vắng bóng mê tín dị đoan, đã dìu dắt các dân tộc Ðông Á trên nhiều chặng đường mấy ngàn năm lịch sử mà không gây ra bất cứ một cuộc chiến tranh tôn giáo nào. Nền văn hóa này đã bao hàm và dung hợp những tôn giáo mới mẻ, đến từ Tây Phương (như Công Giáo và Tin Lành) trong tinh thần hòa bình và tương kính.Với sự cáo chung của ý thức hệ Mác- Lê và khoảng trống tâm linh gây ra trong tâm hồn của nhiều thành phần trong đại khối dân tộc, nền đạo đức và văn hóa dân tộc sẽ là chỗ nương tựa tinh thần chân chính và vô giá của cha ông chúng ta để lại. Không những các đảng viên của đảng CSVN, mà đảng viên của các đảng phái quốc gia chống Pháp, vốn vay mượn rất nhiều từ các nhà tư tưởng dân chủ Trung Quốc như Tôn Dật Tiên, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu v.v…sẽ có thể buông neo tư tưởng của mình trong dòng văn hóa phi ý thức hệ và vô cùng khai phóng của nền đạo đức và văn hóa Việt Nam. Minh thị hiến định hóa công cuộc phục hưng đạo đức và văn hóa dân tộc là trách nhiệm của mọi con dân nước Việt.

 

 

Commentsss  

 
0 #1 Vô Danh 2012-04-07 12:45
viễn tưởng xa vời vợi, ....Hòa bình cho đất nước yên lành
Quote
 

Góp Ý